Thú nuôi HỘP NHÔM , ỐNG TRÒN NHÔM

Thảo luận trong 'Thú Nuôi - Cây Cảnh' bắt đầu bởi lephuc01, 5/5/17.

Lượt xem: 885

  1. lephuc01 New Member

    chuyên sản xuất nhôm thanh U,V, nhôm hộp,vuông, gia công theo mẫu yêu cầu, sơn tĩnh điện...[/b]

    0937655551 phúc

    0983994326 linh

    Doanh nghiệp QTH chúng tôi chuyên đùn các loại thanh nhôm định hình theo công nghệ japan. Qua nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực này, công ty của chúng tôi không ngừng phát triển về mọi mặt để tạo ra những nhôm đạt chất lượng tốt nhất.Với hơn trên dưới 200 mẫu mã nhôm khác nhau theo từng nghành nghề đáp ứng hầu hết nhu cầu của khách hàng trong mọi lĩnh vực như : xây dựng, trang trí ngoại thất và những thanh nhôm phục vụ công nghiệp trong và ngoài nước. Đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu quý khách hàng doanh nghiệp còn nhận gia công nhôm theo khuân mẫu, nhận sơn tĩnh điện...Quý khách có thể tham khảo thêm từ trang Wed





    nhôm hộp vuông, chữ nhật

    [​IMG]
    [​IMG][​IMG]



    345



    DNTN TM Nhôm - Sắt Đại Phúc Linh

    email: lephuc.business@gmail.com

    TEL: 0937655551 Mr PHÚC - 0983994326 Mrs LINH

    Nhà máy: ấp 5 x.vĩnh lộc b - h.bình chánh

    VĂN PHÒNG : THIÊN PHƯỚC P9 TÂN BÌNH, TP.HCM

    ========================================================================================================

    Nhôm ( tiếng Latinh : alumen , alum ) là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Al và sống mũi tử bằng 13. Gõ chiêng la tử khối bằng 27 đvC. Khối lượng riêng là 2 , 7 g/cm 3 . Nhiệt độ nóng chảy là 660 o C. Nhôm là nguyên tố phổ biến thứ 3 ( sau ôxy và silic ) , và là kim khí phổ quát nhất trong vỏ trái đất. Nhôm chiếm khoảng 8% khối lớp rắn của trái đất. Kim khí nhôm hiếm biến hóa hóa học mạnh với các mẫu quặng và hiện diện hạn chế trong các môi trường khử cực mạnh. Tuy thế , nó vẫn được tìm thấy ở dạng hợp chất trong hơn 270 loại khoáng vật khác nhau. [4] Quặng chính chứa nhôm là bô xít .



    Nhôm có điểm đáng chú ý của một kim loại có tỷ trọng thấp và có khả năng chống ăn mòn hiện tượng bị động. Các thành phần nông dân cấu trúc được làm từ nhôm và hợp kim của nó là rất quan trọng cho ngành Công lao Kĩ sư vũ trụ và rất quan trọng trong các chuye khác của giao thông vận tải và vật liệu cấu trúc. Các hợp chất hữu ích nhất của nhôm là các ôxít và sunfat.



    mặc dầu nó hiện diện phổ biến trong môi trường nhưng các muối nhôm không được bất kỳ dạng sống nào sử dụng. Với sự phổ biến của nó , nhôm được dung nạp tốt bởi cây cỏ và động vật. [5]



    Từ "nhôm" trong tiếng Việt có nguồn gốc từ aluminium trong tiếng Pháp .





    mục đề [ ẩn ]

    1 tính chất

    2 Lịch sử

    3 vận dụng

    4 Sự phổ biến , pha chế

    5 Đồng vị

    5.1 Cụm

    6 cảnh báo

    7 Hóa học

    7.1 thể trạng ôxi hóa 1

    7.2 thể trạng ôxi hóa 2

    7.3 trạng thái ôxi hóa 3

    8 ảnh hưởng lên cây cỏ

    9 chú giải

    10 tham khảo

    11 kết liên ngoài





    thuộc tính [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm là một kim khí mềm , nhẹ với màu xám bạc ánh kim mờ , vì có một lớp mỏng ôxi hóa làm nên rất nhanh khi nó để trần ngoài khí trời . Tỷ trọng riêng của nhôm chỉ khoảng một phần ba sắt hay đồng ; nó rất mềm ( chỉ sau vàng ) , dễ uốn ( đứng thứ sáu ) và dễ dàng gia công trên máy móc hay đúc; nó có khả năng chống bào mòn và vững bền do lớp ôxít trông coi. Nó cũng không nhiễm từ và không cháy khi để ở ngoài không khí ở điều kiện thường nhật .



    Sức bền của nhôm thuần khiết là 7–11 MPa , trong lúc hợp kim nhôm có độ bền từ 200 MPa đến 600 MPa. [6] Các nguyên tử nhôm sắp xếp thành một kiến trúc lập phương tâm mặt ( fcc ). Nhôm có năng lượng xếp lỗi vào khoảng 200 mJ/m 2 . [7]



    Nhôm đặc tính với nước tạo ra hydro và năng lượng:



    2 Al + 6 H 2 O → 2 Al( OH ) 3 + 3 H 2

    thuộc tính này có xác xuất dùng để sản xuất hydro , tuy nhiên phản ứng này mau chóng dừng lại vì tạo lớp kết tủa keo lắng xuống , ngăn cản đặc tính xảy ra. [8]



    Khi ngâm trong dung dịch kiềm đặc , lớp màng này sẽ bị phá hủy theo đặc tính



    Al( OH ) 3 +NaOH → NaAlO 2 + 2H 2 O

    nối Al lại hiệu quả với nước như biến hóa trên. Quá trình này lại diễn ra đến khi Al không bị hòa tan hết.



    Lịch sử [ sửa sửa mã nguồn ] Tham chiếu đi hàng đầu tới nhôm ( mặc dầu chẳng thể chứng minh ) là trong Naturalis Historia của Gaius Plinius Secundus ( tức Pliny anh ):



    Có một càng ngày càng người thợ vàng ở Roma được phép cho hoàng đế Tiberius xem một chiếc đĩa ăn làm từ một kim loại mới. Chiếc đĩa rất nhẹ và có màu sáng như bạc . Địa ngục thợ vàng nói với hoàng đế rằng ông đã làm ra kim loại từ đất thó thô. Ông cũng xác nhận với hoàng đế rằng chỉ có ông ta và chúa Trời biết cách làm ra kim khí này từ đất thó. Hoàng đế rất xăm , và như một chuyên gia về tài chính ông đã quan hoài tới nó. Tuy nhiên ông nhận ngay ra là mọi tài sản vàng , bạc của ông sẽ mất giá trị giả dụ người dân bắt đầu sản xuất kim khí màu sáng này từ đất thó. Vì thế , thay vì cám ơn người thợ vàng , ông đã ra lệnh chặt đầu ông ta . [9] [10]



    Những người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã sử dụng các loại muối của kim loại này như là thuốc cẩn màu ( nhuộm ) và như chất làm se vết thương , và Phèn trắng vẫn được sử dụng như chất làm se. Năm 1761 Guyton de Morveau đề xuất cách gọi gốc của phèn chua là alumine . Năm 1808 , Humphry Davy rõ ràng được gốc kim khí của Phèn trắng ( alum ) , mà theo đó ông đặt tên cho nhôm là aluminium .



    danh tiếng của Friedrich Wöhler nói chung được gắn liền với việc phân lập nhôm vào năm 1827 . Tuy nhiên , kim khí này đã được làm ra lần đi hàng đầu trong dạng không nguyên chất hai năm trước bởi nhà vật lý và hóa học Đan Mạch Hans Christian Ørsted .



    Nhôm được chọn làm chóp cho kỷ niệm Washington vào thời kì khi một aoxơ ( 28 , 35 g ) quý báu bằng hai lần ngày lương của người lao động. [11]



    Charles Martin Hall nhận được bằng sáng chế ( số 400655 ) năm 1886 , về quy trình điện phân để sản xuất nhôm. Henri Saint-Claire Deville ( Pháp ) đã hoàn thiện biện pháp của Wöhler ( năm 1846 ) và biểu lộ nó trong cuốn sách năm 1859 với hai sửa đổi cho tiến bộ hơn trong quy trình là thay thế kali thành natri và hai thay vì một ( chlorure )??. Phát minh của quy trình Hall-Héroult năm 1886 đã làm cho việc sản xuất nhôm từ khoáng vật trở thành không đắt tiền và ngày nay nó được sử dụng thông đạt các ngả trên thế giới.



    Nước Đức trở nên nhà làm ra nhôm lớn nhất thế giới sau khi Adolf Hitler lên nắm quyền. Tuy nhiên , năm 1942 , những nhà máy thủy điện mới như Grand Coulee Dam đã cho phép Mỹ những thứ mà nước Đức quốc xã không thể hy vọng cạnh tranh: khả năng sản xuất đủ nhôm để có xác xuất sản xuất 60.000 máy bay chiến đấu trong bốn năm. [12] .



    vận dụng [ sửa sửa mã nguồn ] Tính theo cả số lượng lẫn giá trị , việc sử dụng nhôm vượt tất cả các kim loại khác , trừ sắt [13] , và nó đóng vai trò quan yếu trong nền kinh tế thế giới. Nhôm thuần khiết có sức chịu kéo thấp , nhưng tạo ra các hợp kim với nhiều nguyên tố như đồng , kẽm , magiê , mangan và silic [14] . Khi được gia công cơ-nhiệt , các hợp kim nhôm này có các thuộc tính cơ học có xu hướng gia tăng so với bình thường đáng kể.



    Các hợp kim nhôm tạo thành một thành phần quan trọng trong các máy bay và tên lửa do tỷ lệ sức bền cao trên cùng khối lượng.

    Khi nhôm được bay hơi trong chân không , nó tạo ra lớp bao trùm v cả ánh sáng và bức xạ nhiệt . Các lớp bao trùm này gây nên một lớp mỏng của ôxít nhôm gác canh , nó không bị hư hỏng như các lớp bạc bao trùm vẫn hay bị. Trên thực tế , gần như tuốt các loại gương hiện đại được sản xuất sử dụng lớp phản xạ bằng nhôm trên mặt sau của thủy tinh . Các gương của kính thiên văn cũng được phủ một lớp mỏng nhôm , nhưng là ở mặt trước để tránh các như: âm ba bên trong mặc dầu điều này làm cho bề mặt rất thính hơn với các tổn thương.

    Các loại vỏ phủ nhôm đôi khi được dùng thay vỏ phủ vàng để phủ vệ tinh nhân tạo hay khinh khí cầu để tăng nhiệt độ cho chúng , nhờ vào biến hóa hấp thu bức xạ điện từ của aìc vàng tốt , mà bức xạ hồng ngoại vào ban đêm thấp.

    Hợp kim nhôm , nhẹ và bền , được dùng để chế tạo các chi tiết của phương tiện chuyên chở ( ôtô , phi cơ , xe tải , toa xe tàu hỏa , tàu bể , v.v. )

    Đóng gói ( can , giấy gói , v.v )

    xử lí nước thuốc

    Xây dựng ( cửa sổ , cửa , ván , v.v; tuy nhiên nó đã đánh mất vai trò chính dùng làm dây dẫn phần cuối cùng của các mạng điện , trực tiếp đến người sử dụng. [15] )

    Các hàng tiêu dùng có độ bền cao ( trang thiết bị , đồ nấu bếp , v.v )

    Các đường dây tải điện ( mặc dù độ dẫn điện của nó chỉ bằng 60% của đồng , nó nhẹ hơn nếu tính theo khối lượng và rẻ tiền hơn [16]

    chế tác máy móc.

    mặc dù tự bản thân nó là không nhiễm từ , nhôm được sử dụng trong thép MKM và các nam châm Alnico .

    Nhôm siêu tinh khiết ( SPA ) chứa 99 , 980%-99 , 999% nhôm được sử dụng trong công nghiệp điện tử và sản xuất đĩa CD .

    Nhôm dạng bột thông thường được sử dụng để tạo màu bạc trong sơn. Các bông nhôm có xác xuất cho thêm vào trong sơn lót , cốt yếu là trong xử lý gỗ — khi khô đi , các bông nhôm sẽ tạo ra một lớp kháng nước rất tốt.

    Nhôm dương cực hóa là yên ổn hơn đối với sự ôxi hóa , và nó được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau của xây dựng.

    phần nhiều các bộ tản nhiệt cho CPU của các máy tính đương đại được sản xuất từ nhôm vì nó dễ dàng trong sản xuất và độ dẫn nhiệt cao.

    Ôxít nhôm , alumina , được tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng corunđum , emery , ruby và saphia và được sử dụng trong sản xuất sao thủy. Ruby và saphia tổng hợp được sử dụng trong các ống tia laser để sản xuất ánh sáng có xác xuất giao thoa .

    Sự ôxi hóa nhôm tỏa ra nhiều nhiệt , nó sử dụng để làm vật liệu rắn cho tên lửa , nhiệt nhôm và các thành phần nông dân của pháo hoa .

    phản ứng nhiệt nhôm dùng để điều chế các kim khí có nhiệt độ nóng chảy cao ( như crôm Cr Vonfarm W... )

    Sự phổ quát , điều chế [ sửa sửa mã nguồn ]

    Quặng Bauxite chứa nhôm. Đồng vị bền của nhôm được tạo ra khi hydro hợp hạch với magiê hoặc trong các sao lớn hoặc trong các vụ nổ siêu tân tinh . [17]



    mặc dù nhôm là nguyên tố phổ biến trong vỏ trái đất ( 8 , 3% theo khối lượng ) [18] , nó lại hiếm trong dạng không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc và đã từng được cho là kim loại quý có giá trị hơn vàng ( Người ta nói rằng Napoleon III của Pháp có các bộ đồ ăn bằng nhôm đề phòng cho những người khách quý nhất của ông. Những người khách khác chỉ có bộ đồ ăn bằng vàng ). Bởi thế nhôm là kim loại tương đối mới trong công nghiệp và được làm ra với số lượng công nghiệp chỉ khoảng trên 100 năm.



    Nhôm khi mới được phát hiện là cực kỳ khó Chia ra khỏi các loại đá có chứa nó. Vì toàn bộ nhôm của quả đất tồn tại dưới dạng các hợp chất nên nó là kim loại khó nhận được nhất. Lý do là nhôm bị ôxi hóa rất nhanh và ôxít nhôm là một hợp chất cực kỳ vững bền , không giống như gỉ sắt , nó không bị bong ra.



    Sự tái chế nhôm từ các phế thải đã trở nên một trong những thành phần quan yếu của công nghiệp luyện nhôm . Việc tái chế giản đơn là nấu chảy kim khí , nó rẻ hơn rất nhiều so với làm ra từ quặng. Việc tinh luyện nhôm tiêu hao nhiều điện năng; việc tái chế định mức hao khoảng 5% năng lượng để sản xuất ra nó trên cùng một khối lượng sản phẩm. Mặc dù cho đến đầu thập niên 1900 , việc tái chế nhôm không còn là một chuye mới. Tuy nhiên , nó là khu vực hoạt động trầm lắng cho đến tận những năm cuối thập niên 1960 khi sự Phát nổ của việc sử dụng nhôm để làm vỏ của các loại đồ uống , kể từ đó việc tái chế nhôm được đưa vào trong tầm chú ý của cộng đồng. Các nguồn tái chế nhôm bao gồm ô tô cũ , cửa và cửa sổ nhôm cũ , các thiết bị gia đình cũ , contenơ và các sản phẩm khác.



    Nhôm là một kim loại hoạt động và rất khó phân lập nó ra từ quặng , ôxít nhôm ( Al 2 O 3 ). Việc khử trực tiếp , nếu với cacbon , là không kinh tế vì ôxít nhôm có điểm nóng chảy cao ( khoảng 2.000 °C ). Vì thế , nó được tách ra bằng cách điện phân – ôxít nhôm được hòa tan trong cryôlit nóng chảy và sau thời gian ấy bị khử bởi dòng điện thành nhôm kim loại. Theo công nghệ này , nhiệt độ nóng chảy của hổ lốn chỉ còn khoảng 950-980 °C. Cryôlit nguyên thủy được tìm thấy như một khoáng vật ở Greenland , nhưng sau đó được thay thế bằng cryôlit tổng hợp. Cryôlit là hổ lốn của các florua nhôm , natri và canxi ( Na 3 AlF 6 ). Ôxít nhôm trong dạng bột màu trắng thu được từ quặng bôxít tinh luyện , quặng này có vẻ son vì chứa khoảng 30-40% ôxít sắt. Nó được tinh chế theo công nghệ Bayer . Trước khi có công nghệ này , công nghệ được sử dụng là công nghệ Deville .



    Công nghệ điện phân thay thế cho công nghệ Wöhler , là công nghệ khử clorua nhôm khan với kali .



    Các điện cực trong điện phân ôxít nhôm làm từ cacbon . Khi quặng bị nóng chảy , các ion của nó chuyển động không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc. Đặc tính tại catốt mang điện âm là:



    Al 3+ + 3e - → Al

    Ở đây các ion nhôm bị biến chuyển ( nhận thêm điện tử ). Nhôm kim loại sau đó chìm xuống và được đưa ra khỏi lò điện phân.



    Tại cực dương ( anode ) ôxy dạng khí được tạo thành:



    2O 2- → O 2 + 4e -

    Cực dương cacbon bị ôxi hóa bởi ôxy . Cực dương bị hao mòn dần và phải được thay thế luôn luôn , do nó bị hao hụt do phản ứng:



    O 2 + C → CO 2

    ngược lại với anốt , các catốt cơ hồ không bị mất mát trong quá trình điện phân do không có ôxy ở gần nó. Catốt cacbon được canh giữ bởi nhôm lỏng trong lò. Các catốt bị ăn mòn chủ yếu là do các phản ứng điện hóa. Sau 5-10 năm , nước phụ thuộc vào dòng điện sử dụng trong quá trình điện phân , các lò điện phân cần phải sang sửa tất do các catốt đã bị ăn mòn hoàn toàn.



    Điện phân nhôm bằng công nghệ Hall-Héroult tiêu hao nhiều điện năng , nhưng các công nghệ khác luôn luôn có có lỗi về mặt kinh tế hay môi trường hơn công nghệ này. Thời hạn mất mát năng lượng phổ thông là khoảng 14 , 5-15 , 5 kWh/kg nhôm được làm ra. Các lò hiện đại có mức tiêu thụ điện lực khoảng 12 , 8 kWh/kg. Dòng điện để thực hành công việc điện phân này đối với các công nghệ cũ là 100.000-200.000 A . Các lò hiện tại làm việc với cường độ dòng điện khoảng 350.000 A. Các lò thí nghiệm làm việc với dòng điện khoảng 500.000 A.



    Năng lượng điện chiếm khoảng 20-40% trong giá thành của làm ra nhôm , phụ thuộc vào nơi đặt lò nhôm. Các lò luyện nhôm có xu hướng được đặt ở những lĩnh vực mà nguồn cung cấp điện dồi dào với giá điện rẻ , như Nam Phi , đảo miền nam New Zealand , Úc , Trung Quốc , Trung Đông , Nga và Québec ở Canada .



    Trung Quốc hiện là nhà sản xuất nhôm lớn nhất thế giới ( năm 2004 ).



    Đồng vị [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm có chín đồng vị , số Z của chúng từ 23 đến 30. Chỉ có Al-27 ( đồng vị ổn định ) và Al-26 ( đồng vị phóng xạ , t 1/2 = 7 , 2 × 10 5 năm ) tìm thấy trong thiên nhiên , tuy nhiên Al-27 có sự phổ thông trong tự nhiên là 100%. Al-26 được làm ra từ agon trong khí quyển do đụng chạm ra đời bởi các tia vũ trụ proton . Các đồng vị của nhôm có ứng dụng thực tiễn trong việc tính tuổi của trầm tích dưới biển , các vết mangan , nước đóng băng , thạch anh trong đá lộ thiên , và các tinh thạch. Tỷ lệ của Al-26 trên beryli-10 được sử dụng để Học hỏi vai trò của việc chuyển hóa , lắng đọng , lưu trữ trầm tích , thời kì cháy và sự xâm thực trong thang độ thời kì 105 đến 106 năm ( về sai số ).



    Al-26 nguyên lai vũ trụ hàng đầu được sử dụng để Học hỏi trăng và các thiên thạch . Các thành phần nông dân của thiên thạch , sau khi thoát khỏi nguồn gốc của chúng , trong khi ngao du trong không gian bị tiến công bởi các tia vũ trụ , sinh ra các nguyên tử Al-26. Sau khi rơi xuống trái đất , tấm chắn khí quyển đã trông coi cho các phần tử này không ra đời thêm Al-26 , và sự phân rã của nó có khả năng sử dụng để xác định tuổi trên quả đất của các thiên thạch này. Các Học hỏi về thiên thạch cho thấy Al-26 là tương đối phổ quát trong thời kì hình thành hệ hành tinh của chúng tôi. Có thể là năng lượng được giải phóng bởi sự phân rã Al-26 có liên quan đến sự nấu chảy lại và sự sai dị của một số tiểu hành tinh sau khi chúng hình thành cách đây 4 , 55 tỷ năm. [19]



    Cụm [ sửa sửa mã nguồn ] Trong tạp chí Science ngày 14 tháng 1 năm 2005 đã thông báo rằng các cụm 13 nguyên tử nhôm ( Al 13 ) được tạo ra có tính chất giống như nguyên tử iốt ; và 14 nguyên tử nhôm ( Al 14 ) có thuộc tính giống như nguyên tử kim loại kiềm thổ . Các nhà Học hỏi còn kết liên 12 nguyên tử iốt với cụm Al 13 để tạo ra một lớp mới của pôlyiốtua . Sự phát kiến này được thông tin là Cởi ra khả năng của các đặc tính mới của bảng tuần hoàn các nguyên tố : "các nguyên tố cụm". Nhóm Học hỏi dẫn đầu bởi Shiv N. Khanna ( Đại học Virginia Commonwealth ) và A. Welford Castleman Jr ( Đại học tiểu bang Penn ). [20]



    cảnh báo [ sửa sửa mã nguồn ] Nhôm là một trong ít các nguyên tố phổ thông nhất mà không có chức năng hữu ích nào cho các thân hình sống , nhưng có một số người bị dị ứng với nó — họ bị các chứng viêm da do gặp mặt với các dạng khác nhau của nhôm: các vết ngứa do sử dụng các chất làm se da hay hút mồ hôi ( phấn rôm ) , các rối loạn tiêu hóa và giảm hay mất khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng từ thức ăn nấu trong các nồi nhôm , nôn mửa hay các triệu chứng khác của bị trúng độc nhôm do ăn ( uống ) các sản phẩm như Kaopectate® ( thuốc chống đi rửa ) , Amphojel® và Maalox® ( thuốc chống chua ). Đối với những người khác , nhôm không bị coi là chất độc như các kim khí nặng , nhưng có dấu hiệu của bị trúng độc nếu nó được tiếp thụ nhiều , mặc dầu việc sử dụng các đồ Bếp bằng nhôm ( phổ quát do khả năng chống bào mòn và dẫn nhiệt tốt ) nhìn chung chưa cho thấy dẫn đến tình trạng ngộ độc nhôm. Việc tiêu thụ qua nhiều các thuốc chống chua chứa các hợp chất nhôm và việc sử dụng quá nhiều các chất hút mồ hôi chứa nhôm dễ thường là nguồn duy nhất sinh ra sự bị trúng độc nhôm. Người ta ý là nhôm liên đái đến bệnh Alzheimer , mặc dù các nghiên cứu gần đây đã bị bác bỏ.



    Cần cẩn trọng để không cho nhôm tiếp kiến với một số chất hóa học nào đó có khả năng bào mòn nó rất nhanh. Giá dụ , chỉ một lượng nhỏ thuốc độc tiếp kiến với bề mặt của miếng nhôm có xác xuất phá hủy lớp ôxít nhôm canh giữ thường nhật có trên bề mặt các tấm nhôm. Trong vài giờ , thậm chí cả một cái xà có kiến trúc nặng nề có thể bị làm yếu đi một cách rõ rệt. Vì lý do này , các loại hàn thử biểu thuốc độc không được phép trong nhiều sân bay và hãng điện cơ , vì nhôm là thành phần kiến trúc cơ bản của các máy bay.



    Hóa học [ sửa sửa mã nguồn ] thể trạng ôxi hóa 1 [ sửa sửa mã nguồn ] AlH được pha chế khi nhôm bị nung nóng ở nhiệt độ 1500 °C trong hiđrô .

    Al 2 O được điều chế bằng cách nung nóng ôxít thường nhật , Al 2 O 3 , với silic ở nhiệt độ 1800 °C trong chân không .

    Al 2 S được pha chế bằng cách nung nóng Al 2 S 3 với vỏ nhôm ở nhiệt độ 1300 °C trong chân không. Nó mau chóng bị chuyển thành các chất ban đầu. Selenua được điều chế na ná.

    AlF , AlCl và AlBr tồn tại trong pha khí khi ba halua được nung nóng cùng với nhôm.

    trạng thái ôxi hóa 2 [ sửa sửa mã nguồn ] Subôxít nhôm , AlO có thể được tồn tại khi bột nhôm cháy trong ôxy .

    thể trạng ôxi hóa 3 [ sửa sửa mã nguồn ] quy tắc tam suất Fajans chỉ ra rằng cation hóa trị ba Al 3+ là không được mong chờ tìm thấy trong các muối khan hay trong các hợp chất nhị phân như Al 2 O 3 . Hiđrôxít nhôm là một bazơ yếu và muối nhôm của các axít yếu , chẳng hạn như cacbonat , chẳng thể tạo ra. Muối của các axít mạnh , chẳng hạn như nitrat , là ổn định và hòa tan trong nước , làm nên các hiđrat với ít ra sáu phân tử nước kết tinh .

    Hiđrua nhôm , ( AlH 3 ) n , có xác xuất làm ra từ trimêthyl nhôm và hiđrô dư dả. Nó cháy kèm nổ trong khí trời. Nó cũng có khả năng được điều chế bằng phản ứng của clorua nhôm trên hiđrua liti trong dung dịch ête , nhưng không thể cô lập thành dạng không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc từ dung dịch.

    Cacbua nhôm , Al 4 C 3 được làm ra bằng cách nung nóng hỗn hợp hai nguyên tố trên 1.000 °C. Các tinh thể màu vàng nhạt có kiến trúc lưới Rắc rối , và phản ứng với nước hay axít loãng tạo ra mêtan . Axêtylua , Al 2 ( C 2 ) 3 , được điều chế bằng cách cho axêtylen đi qua nhôm nóng.

    Nitrua nhôm , AlN , có khả năng được làm ra từ các nguyên tố ở nhiệt độ 800 °C. Nó bị thủy phân bởi nước tạo ra amôniắc và hiđrôxít nhôm .

    Phốtphua nhôm , AlP , được sản xuất na ná , và bị thủy phân thành phốtphin ( PH 3 ).

    Ôxít nhôm , Al 2 O 3 , tìm thấy trong thiên nhiên như là corunđum , và có khả năng phối chế bằng cách đốt nóng nhôm với ôxy hay nung nóng hiđrôxít , nitrat hoặc sulfat. Như là một loại đá quý , độ cứng của nó chỉ thua có kim cương , nitrua bo và cacborunđum . Nó cơ hồ không hòa tan trong nước.

    Hiđrôxít nhôm có xác xuất được điều chế như là một chất kết tủa dạng gelatin bằng cách cho thêm amôniắc vào trong dung dịch của các muối nhôm. Nó là lưỡng tính , vừa là bazơ yếu vừa là axít yếu , có thể tạo ra các muối aluminat với kim khí kiềm . Nó tồn tại trong các dạng tinh thể khác nhau.

    Sulfua nhôm , Al 2 S 3 , có thể phối chế bằng cách cho sulfua hiđrô đi qua bột nhôm. Nó là một chất đa hình.

    Florua nhôm , AlF 3 , có xác xuất điều chế bằng cách cho hai nguyên tố tác dụng với nhau hay cho hiđrôxít nhôm tác dụng với HF. Nó tạo thành phân tử lớn , bay hơi không qua pha nóng chảy ở nhiệt độ 1.291 °C ( thăng hoa ). Nó là một chất rất trơ. Các trihalua khác là các chất dime , có cấu trúc cầu nối.

    Các hợp chất hữu cơ của nhôm có công thức chung AlR 3 tồn tại và nếu không phải là các phân tử lớn , thìa là các chất dime hay trime . Chúng được sử dụng trong tổng hợp chất hữu cơ , giá dụ trimêtyl nhôm .

    Các chất alumino-hyđrua của phần lớn các nguyên tố có khả năng tích điện dương đã được biết , trong đó đáng được coi trọng nhất là hiđrua nhôm liti , Li[AlH 4 ]. Khi bị đốt nóng , nó phân hủy thành nhôm , hiđrô và hiđrua liti , nó bị thủy phân trong nước. Nó có nhiều ứng dụng trong hóa hữu cơ. Các alumino-halua [AlR 4 ] có cấu trúc tương tự.
  2. Bình Luận Bằng Facebook





VIDEO ĐANG ĐƯỢC XEM NHIỀU:


Bấm SUBSCRIBE LIKE ngay để được xem nhiều video hơn: